Viêm họng là tình trạng viêm cấp niêm mạc hầu.
Có 3 loại viêm họng: viêm họng trắng, viêm họng đỏ và viêm họng loét (rất hiếm gặp). Trong tất cả các trường hợp, người bệnh đều cảm thấy đau rát họng, gặp khó khăn khi nuốt, sốt và thường xuyên nhức đầu. Ngoài ra, viêm họng còn đi kèm với một vài triệu chứng như cảm lạnh, buồn nôn, đau mình mẩy, sưng amiđan và nổi hạch ở cổ…
Có 3 loại viêm họng: viêm họng trắng, viêm họng đỏ và viêm họng loét (rất hiếm gặp). Trong tất cả các trường hợp, người bệnh đều cảm thấy đau rát họng, gặp khó khăn khi nuốt, sốt và thường xuyên nhức đầu. Ngoài ra, viêm họng còn đi kèm với một vài triệu chứng như cảm lạnh, buồn nôn, đau mình mẩy, sưng amiđan và nổi hạch ở cổ…
Có nhiều nguyên nhân gây viêm họng nhưng phần lớn là do các loại vi rút
(80%), còn lại là do vi khuẩn (chủ yếu liên cầu khuẩn tán huyết nhóm A
Streptococcus - thủ phạm gây nên những biến chứng nghiêm trọng về tim,
khớp và thận) và các yếu tố nguy cơ như thay đổi thời tiết, khói bụi,
rượu, hoá chất...
I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM HỌNG:
Ngoài ra, các yếu tố như thay đổi thời tiết, lạnh, ẩm, bụi, khói thuốc, rượu, khí thải hoá chất cũng gây viêm họng.
II. CÁC LOẠI BỆNH VIÊM HỌNG:
Viêm họng cấp
Viêm họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến, thường xuất hiện với các
bệnh viêm V. ASEAN, viêm amiđan. Bệnh thường khởi phát đột ngột, người
bệnh sốt cao 39 – 40oC, kèm theo đó là nuốt đau, rát họng,
khàn tiếng. Các triệu chứng kèm theo là sụt sịt, tắc mũi và chảy nước
mũi nhầy, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, người bệnh thấy đau lên tai và
đau nhói khi nuốt.
Viêm họng cấp do virút thường diễn biến trong 3 – 4 ngày, chỉ cần dùng
thuốc điều trị chứng giảm sốt, giảm ho thì bệnh sẽ lui dần. Nhưng nếu
viêm họng do vi khuẩn thì dấu hiệu toàn thân sẽ nặng nề hơn, người bệnh
sốt, mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, đặc biệt hay có viêm tấy hạch vùng cổ,
hạch góc hàm sưng, đau… Việc điều trị với loại viêm họng do vi khuẩn
hoặc bội nhiễm sau siêu vi trùng thì phải dùng kháng sinh mới có hiệu
quả, dùng trong 5 – 7 ngày.
Nếu viêm họng cấp bị bội nhiễm, bệnh nhân có thể gặp các biến chứng
viêm tai, mũi, phế quản… Ở trẻ em, biến chứng viêm họng do liên cầu
khuẩn, trẻ có các dấu hiệu sốt, đau họng, ho, tiếp đến là sưng, nóng các
khớp, đặc biệt là sưng khớp gối, khớp khuỷu. Sưng khớp và khớp di
chuyển là một số yếu tố quan trọng để nhận biết nguy cơ bị thấp tim ở
bệnh nhân. Biến chứng thấp tim cần được điều trị chu đáo, phải theo dõi
điều trị hàng tháng bằng phương pháp tiêm chậm peniciline đến năm 21
hoặc 25 tuổi.
Viêm họng đỏ
Viêm họng đỏ là bệnh thường gặp khi thay đổi thời tiết, vào mùa lạnh. Bệnh do virút gây ra nên có tốc độ lây lan rất nhanh.
Triệu chứng điển hình là sốt, mệt mỏi, thường sốt đột ngột 39 – 40oC,
đau mình mẩy, kém ăn, trẻ em quấy khóc. Nếu do nhiễm khuẩn thì sẽ có
các biểu hiện nhiễm khuẩn như môi khô, lưỡi bẩn, mạch nhanh, mặt bơ phờ
mệt mỏi.
Người bệnh thấy đau họng, rát họng khi uống nước hoặc nuốt nước bọt,
nhưng với các chất rắn nuốt ít đau hơn, bệnh nhân khó nuốt, rát họng. Ho
là dấu hiệu thứ hai hay gặp hơn cả, có thể ho từng cơn, ho có đờm,
nhầy, lúc đầu trắng sau đặc vàng có mùi hôi, thay đổi tiếng nói, giọng
hơi khàn, có khi khàn hẳn. Toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực, amiđan sưng to,
đỏ. Hạch ở góc hàm sưng, đau.
Viêm họng giả mạc
Chỉ chiếm 2 – 3% nhưng cần phải cảnh giác vì nó có thể là viêm họng
bạch hầu, một bệnh nặng. Trong trường hợp này, bệnh nhân nhợt nhạt, sốt
trên 38,5oC; giả mạc có màu trắng, xám, dai, dính khó bóc,
dày, lan rộng và rất dính vào niêm mạc của amiđan và họng. Có khi giả
mạc lan xuống thanh quản, nhất là ở trẻ nhỏ, gây khó thở cấp (khó thở
viêm thanh quản).
Viêm họng do liên cầu
Bệnh này gây nhiều biến chứng, nhưng hay gặp nhất là thấp khớp cấp và
viêm cầu thận. Ngoài những biến chứng xa như thấp tim, viêm họng do liên
cầu còn gây biến chứng gần như viêm tai giữa cấp mủ, viêm tấy, áp-xe
quanh amiđan, áp-xe thành bên họng, thành sau họng.
Viêm họng do virút
Bệnh rất hay gặp. Hầu hết các trường hợp viêm họng do virút đều có thể
có thể tự khỏi trong vòng 4 – 5 này (nếu không có bội nhiễm vi khuẩn).
Bệnh hay kết hợp với viêm kết mạc mắt, rất hay gặp ở các nhà trẻ và có
thể gây thành dịch.
Về điều trị, nếu là viêm họng do virút thông thường, không có bội nhiễm
thì không cần dùng kháng sinh. Nếu do liên cầu khuẩn, cần điều trị tích
cực bằng kháng sinh và theo dõi biến chứng như thấp tim.
Viêm họng trắng
Là chỉ các loại viêm họng có giác mạc màu trắng mà ngoài viền là bạch
hầu như đã nói trước. Còn có viêm họng Vincent, còn gọi là viêm họng
loét, chỉ chiếm khoảng 5% và thường một bên. Bệnh hay gặp ở người lớn
tuổi hoặc người già, giả mạc thường mỏng, dễ bong, khi bóc giả mạc phía
dưới là một lớp loét nông.
Ngoài ra, viêm họng trắng thường gây nổi hạch ở vùng cổ.
Viêm họng hạt
Viêm họng mạn tính tái phát nhiều lần sẽ dẫn đến viêm họng hạt. Bệnh
không nặng nhưng gây khó chịu, nhất là trong giao tiếp. Bệnh kích thích
họng gây khó chịu. Người bệnh lúc nào cũng thấy vướng trong họng, ngứa
họng, phải đằng hắng hay ho nhẹ một tiếng mới hết; và chỉ một lúc sau
(vài giờ, thậm chí chỉ mấy phút) lại bị ngứa họng, lại phải đằng hắng
hay ho nhẹ một cái. Bệnh diễn biến một thời gian dài (vài tháng, có khi
vài năm). Tình trạng ngứa họng ngày càng nặng hơn, việc đằng hắng không
còn tác dụng nữa. Bệnh nhân ho khan, thường không có đờm, có lúc phải ho
cả tràng, thậm chí ho dài không kịp thở.
Điều trị viêm họng hạt tương đối khó. Việc đốt điện chỉ tạm thời loại
bỏ một số hạt to, gây kích thích ngứa họng mà thôi. Nếu chỉ đốt hạt đơn
thuần mà không điều trị viêm nhiễm xung quanh thì bệnh sẽ tái phát như
cũ. Để điều trị viêm họng hạt, trước hết phải loại bỏ các ổ vi khuẩn
xung quanh; phải tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến viêm họng hạt để chữa
một cách triệt để, ví dụ: điều trị viêm mũi, viêm xoang, viêm khí phế
quản, viêm amiđan… để loại bỏ ổ vi khuẩn từ một trong những nơi này.
Viêm họng mạn tính – trong hội chứng trào ngược
Đây là một bệnh ít người biết đến nhưng lại khá phổ biến. Trước đây,
người ta cho rằng nguyên nhân chủ yếu lại là các yếu tố như rượu, thuốc
lá, hơi độc, khói, bụi, hiện nay chủ yếu là do bệnh lý loét dạ dày thực
quản, hiện tượng viêm họng và amiđan là do dịch trào ngược từ dạ dày vào
thực quản đưa lên tạo thành bệnh. Các triệu chứng lâm sàng thường ít,
không ảnh hưởng đến toàn thân, không sốt, người chỉ hay mệt mỏi. Dấu
hiệu quan trọng nhất là rát họng, nuốt vướng, đặc biệt ho từng cơn hoặc
liên tục, ho nhiều, ho khan có thể có ít đờm làm bệnh nhân rất khó chịu
phải khạc nhổ suốt ngày./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét